Kinh tế xanh

Hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon

Thứ bảy, 15/8/2026 | 16:16 GMT+7
Đại diện Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, cơ quan quản lý đang hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon. Đây là một trong những vấn đề cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện khi thị trường carbon đi vào thực tế.

Tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: Từ chính sách đến hành động do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa tổ chức, giới thiệu về Nghị định số 112/2026/NĐ-CP của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, theo Nghị định, có 3 phương án chuyển giao tín chỉ carbon quốc tế để doanh nghiệp chủ động lựa chọn: cơ chế hợp tác song phương theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris; cơ chế tập trung toàn cầu theo Điều 6.4 Thỏa thuận Paris và cơ chế theo các tiêu chuẩn carbon độc lập.

Để tạo điều kiện cho các dự án có thể chuyển giao quốc tế kèm thư chấp thuận của Chính phủ, Nghị định 112 quy định các bước sàng lọc chặt chẽ: phương pháp luận áp dụng phải nằm trong danh mục được công nhận, phù hợp với ưu tiên quốc gia và tuân thủ quy trình thẩm định, lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi cấp phép chuyển giao.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, bài toán đặt ra là vừa phải khuyến khích thu hút nguồn vốn, công nghệ cao để giảm phát thải vừa phải kiểm soát lượng tín chỉ chuyển giao ra nước ngoài để không làm tổn hại đến việc thực hiện cam kết NDC.

Tín chỉ carbon chất lượng có thể hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh kết quả giảm phát thải, thực hiện cam kết Net Zero và thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh. (Ảnh minh họa)

Do đó, Nghị định 112 đã quy định rõ hạn mức chuyển giao quốc tế tối đa: danh mục dự án ưu tiên (tỷ lệ chuyển giao tối đa 90%) áp dụng cho các lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn và mới bắt đầu triển khai tại Việt Nam; danh mục dự án khuyến khích (tỷ lệ chuyển giao tối đa 50%) áp dụng cho các biện pháp giảm phát thải đã phổ biến hoặc đã được triển khai rộng rãi tại Việt Nam.

Quy định phân bổ tỷ lệ này vừa phù hợp với thông lệ quốc tế vừa bảo đảm an toàn mục tiêu NDC, đồng thời tạo lập nguồn cung tín chỉ dồi dào cho thị trường nội địa.

Bên cạnh đó, Nghị định 112 quy định tiếp nhận tín chỉ và kết quả giảm phát thải từ quốc tế về Việt Nam. Về nguyên tắc, Việt Nam hoan nghênh luồng tín chỉ này, với điều kiện dự án phải có văn bản chấp thuận chuyển giao chính thức từ chính phủ nước sở tại để đủ tính pháp lý hạch toán vào NDC của Việt Nam.

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), một trong những kinh nghiệm quan trọng rút ra từ quá trình triển khai chuyển nhượng kết quả giảm phát thải rừng tại Việt Nam là muốn bán carbon rừng, trước hết phải đo được lượng hấp thụ.

Lâm nghiệp có lợi thế khi hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng đã được duy trì trong thời gian dài. Nền tảng dữ liệu này cho phép tính toán lượng giảm phát thải, sau đó đưa kết quả ra thẩm định với độ tin cậy cao.

Thực tế tại Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ cho thấy, riêng kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh và được Ngân hàng Thế giới (WB) công nhận 16,2 triệu tấn CO2 giảm phát thải. Từ kết quả được xác nhận, Việt Nam sau đó thực hiện 2 lần chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn, thu về 56,5 triệu USD. Con số này cho thấy diện tích rừng lớn hay khả năng hấp thụ carbon mới chỉ là tiềm năng. Để tạo được giá trị tài chính, lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải phải được lượng hóa bằng phương pháp phù hợp, có dữ liệu theo dõi và trải qua quá trình thẩm định, xác minh.

Ông Phạm Hồng Lượng cũng thông tin về cơ chế chia sẻ lợi ích. Kinh nghiệm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng để thiết kế cách phân bổ nguồn thu carbon. Theo cơ chế áp dụng tại chương trình Bắc Trung Bộ, Trung ương giữ 3,5% phục vụ quản lý, cấp tỉnh giữ 10%, phần còn lại được chi trả cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi. Việc quy định rõ cách phân chia giúp dòng tiền được giải ngân minh bạch, kịp thời.

Thực tế, nguồn thu từ chương trình đã được chi trả cho khoảng 80.000 chủ rừng, trong đó khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Kinh nghiệm này càng có ý nghĩa khi khung pháp lý về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đang được hoàn thiện. Nghị định 180/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7, đặt ra yêu cầu các địa phương chuẩn bị dữ liệu, đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ carbon của rừng.

Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, cơ quan quản lý đang hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon. Đây là một trong những vấn đề cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện khi thị trường carbon đi vào thực tế.

Theo ông, đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cấp tín chỉ sẽ được thực hiện theo lộ trình, gắn với hệ thống báo cáo trực tuyến và hoàn thiện cơ sở dữ liệu. Khi dữ liệu đầy đủ và có thể trao đổi, xác minh, quy trình có thể được chuẩn hóa để giảm thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý.

Tuy nhiên, rút ngắn thủ tục không đồng nghĩa hạ tiêu chuẩn. Không phải mọi hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon đều mặc nhiên tạo ra tín chỉ. Dự án phải đáp ứng các yêu cầu về tính bổ sung, toàn vẹn, bền vững; lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và có dữ liệu đủ tin cậy.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, đây là điều kiện quan trọng bởi tín chỉ không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ khó được thị trường công nhận. Cơ quan quản lý cũng đang xem xét khả năng cho phép một số tín chỉ theo tiêu chuẩn carbon độc lập, như Gold Standard, tham gia thị trường carbon trong nước. Cùng với đơn giản hóa thủ tục, tín chỉ được tạo ra và giao dịch cần được quản lý trên hệ thống đăng ký quốc gia.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng với tín chỉ chuyển giao ra nước ngoài. Khi phải thực hiện điều chỉnh tương ứng, lượng giảm phát thải đã chuyển giao sẽ không còn được Việt Nam tính vào mục tiêu giảm phát thải của mình. Vì vậy, việc chuyển giao phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét trên cơ sở cân đối với mục tiêu quốc gia.

Về phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Tuấn Quang lưu ý không nên coi bán tín chỉ là mục tiêu chính của dự án. Giá tín chỉ biến động và nguồn thu có thể không lớn. Giá trị quan trọng hơn là tín chỉ chất lượng có thể hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh kết quả giảm phát thải, thực hiện cam kết Net Zero và thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh.

Bước tiếp sau khi hình thành khung chính sách, theo ông, là đi sâu vào từng lĩnh vực, tháo gỡ các vấn đề cụ thể khi triển khai dự án. Mục tiêu là quy trình thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhưng tín chỉ tạo ra vẫn phải minh bạch, đủ chất lượng và được thị trường công nhận.

Tiến Đạt