Kinh tế xanh

Mở rộng không gian phát triển mới

Chủ nhật, 16/8/2026 | 15:48 GMT+7
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã mở ra nhiều không gian phát triển mới. Nhưng để chuyển hóa những tiềm năng này thành nền tảng bứt phá cho phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi cần thay đổi tư duy, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường chất lượng thể chế và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ.

Tạo thêm dư địa phát triển

Để tạo dư địa cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển không gian ngầm đô thị rất cần thiết, nhất là khi không gian trên mặt đất ngày càng cạn kiệt. Theo Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA) Trần Ngọc Chính, hiện nay, các thành phố của Việt Nam chỉ mới quy hoạch trên mặt đất, chưa có chiến lược phát triển không gian ngầm toàn diện, thiếu bản đồ địa chất ngầm, quy trình phê duyệt chính sách chậm chạp… dẫn đến ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường và lãng phí thời gian.

Trong khi đó, lợi ích của quy hoạch ngầm sẽ góp phần giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông bằng cách chuyển hệ thống giao thông xuống dưới mặt đất, tăng diện tích xanh trên mặt đất, xử lý tiêu thoát nước hiệu quả, tạo điều kiện phát triển kinh tế bền vững. Do vậy, cần có quy hoạch toàn diện cả trên và dưới mặt đất với sự hỗ trợ từ công nghệ hiện đại và chính sách rõ ràng. Không gian ngầm sẽ là nơi phát triển các ngành kinh tế, dịch vụ; tận dụng những thế mạnh về nguồn lực đất đai, văn hóa, lịch sử, không gian… cũng như phát triển các loại hình giao thông công cộng như Metro, Monorail… tạo nên bức tranh toàn cảnh, hiện đại cho đô thị, nơi thu hút hơn 70% số dân cả nước.

Nghị quyết số 19-NQ/TW cũng đặt ra giải pháp mới là phát triển kinh tế không gian tầm thấp trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, có năng lực cạnh tranh cao.

Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long là điểm đến du lịch biển hàng đầu của Việt Nam, động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, kiến trúc sư Nguyễn Vũ Phương cho rằng, từ góc độ quy hoạch, kinh tế không gian tầm thấp được hiểu là hệ sinh thái kinh tế - công nghệ hình thành từ việc khai thác, quản lý và sử dụng không gian tầm thấp thông qua UAV/Drone và các phương tiện bay tiên tiến nhằm tạo ra giá trị cho giao thông, logistics, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, quản lý đô thị và các dịch vụ công cộng, đây là một lớp không gian phát triển mới của đô thị. Sự xuất hiện của lớp không gian này mở rộng đáng kể khả năng tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế và áp lực hạ tầng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện hình thành các dịch vụ và mô hình kinh doanh mới như: logistics đô thị, giao hàng chặng cuối, du lịch trải nghiệm… góp phần nâng cao chất lượng sống và hiệu quả cung cấp dịch vụ đô thị.

Theo Trung tâm Truyền thông Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Trung Quốc hiện là quốc gia phát triển kinh tế không gian tầm thấp nhanh nhất thế giới. Tại nhiều thành phố như: Thâm Quyến, Quảng Châu, Hợp Phì đã xây dựng hành lang bay đô thị, trung tâm logistics drone, hệ sinh thái taxi bay. Vốn đầu tư cho nền kinh tế tầm thấp của Trung Quốc năm 2025 khoảng 210 tỷ USD với phạm vi khai thác dưới 1.000m cho thấy tiềm năng của kinh tế tầm thấp là rất lớn. Đối với Việt Nam, đây vừa là cơ hội để bứt phá trong phát triển đô thị thông minh, nhưng cũng tạo ra thách thức lớn về quản trị đô thị và an ninh không gian.

Kiến trúc sư, Tiến sĩ Trương Văn Quảng, Phó Tổng Thư ký VUPDA cho biết, hiện nay Việt Nam vẫn thiếu hành lang pháp lý đồng bộ, quy hoạch không gian tầm thấp, tiêu chuẩn hạ tầng, cơ chế quản lý bay đô thị…

Ngoài ra, vấn đề quốc phòng an ninh và bảo vệ dữ liệu sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng, đặt ra yêu cầu mới về quy hoạch, quản lý không gian và khung pháp lý phát triển đô thị trong thời gian tới.

Do đó, các chính sách phát triển kinh tế không gian tầm thấp trong đô thị cần sớm ban hành bao gồm: xây dựng chiến lược quốc gia, xác định đây là một cấu phần của kinh tế số và đô thị thông minh; tích hợp vào quy hoạch đô thị trên cơ sở bổ sung hành lang bay, không gian logistics trên không, hạ tầng skyport, quy hoạch giao thông 3D; hoàn thiện cơ sở pháp lý về quy chuẩn xây dựng, quản lý drone, cấp phép bay… Đồng thời, thí điểm tại các đô thị lớn như: Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng để rút kinh nghiệm và nhân rộng.

Chuyển đổi tư duy quản trị biển

Hiện nay, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh khiến phần lớn các tỉnh, thành phố có biển là một dấu hiệu rõ ràng về định hướng phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, xoay trục mạnh về phía biển. Cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Toản cho biết, Bộ đã hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10.

Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật chính là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian và môi trường biển.

Trong giai đoạn phát triển mới, biển không chỉ là nơi chứa tài nguyên mà còn là không gian phát triển chiến lược đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng - an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia. Do đó, dự thảo luật bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp Quy hoạch không gian biển quốc gia, đồng thời cũng đề xuất cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù nhằm phát triển các ngành kinh tế biển mới như: Năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung hay các mô hình kinh tế carbon thấp...

Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi cho rằng, để xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu khu vực trong các ngành công nghiệp biển theo tinh thần của Nghị quyết số 19- NQ/TW, thể chế hiện đại và khả năng làm chủ khoa học-công nghệ tiên tiến chính là hai trụ cột tạo nên bước đột phá chiến lược.

Mặc dù Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài, vùng biển rộng, lại nằm trên tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp bậc nhất thế giới nhưng sức mạnh kinh tế biển vẫn chưa phản ánh đầy đủ những lợi thế đó. Không gian biển “đa tầng nấc” còn rất lớn, song năng lực khai thác, quản trị và các giá trị gia tăng được tạo ra từ biển vẫn còn khiêm tốn. Do đó, cần chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị tổng hợp không gian biển; từ phát triển theo ngành sang phát triển gắn với quản trị không gian biển dựa vào hệ sinh thái và cơ chế phối hợp liên ngành; từ dựa vào khai thác tài nguyên vật chất sang dựa vào thể chế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Các địa phương cần xây dựng quy hoạch tích hợp trên nền tảng liên kết “núi - rừng - biển”, hình thành các hành lang logistics, trung tâm cảng biển, khu công nghiệp xanh, đô thị biển và chuỗi giá trị kinh tế biển gắn với lợi thế vùng miền. Chỉ khi phát huy được sức mạnh tổng hợp của không gian lãnh thổ mới, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính mới thật sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế bền vững.

Theo báo Nhân Dân