Nâng cao năng lực kiểm kê khí nhà kính, thực hiện mục tiêu giảm phát thải

Thứ tư, 21/10/2026 | 17:55 GMT+7
Dự án “Nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu Khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu” đã hỗ trợ xây dựng hướng dẫn kỹ thuật, công cụ theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đồng thời tăng cường năng lực cho các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Ngày 21/10, tại Hà Nội, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức hội thảo tổng kết dự án “Nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu Khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu” (CBIT).

Dự án do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), triển khai từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2026, với tổng nguồn lực gần 3,77 triệu USD, trong đó viện trợ không hoàn lại của GEF gần 2 triệu USD.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho biết, Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng trong thực hiện các cam kết khí hậu, đặc biệt là mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong bối cảnh đó, minh bạch thông tin về phát thải khí nhà kính, kết quả giảm phát thải và nguồn lực ứng phó biến đổi khí hậu không chỉ là nghĩa vụ quốc tế mà còn là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Dự án đã xây dựng dự thảo công cụ, biểu mẫu kiểm kê khí nhà kính đối với các nguồn phát thải lớn thuộc 4 lĩnh vực: năng lượng; các quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất khác; chất thải

Theo ông Bùi Đức Hiếu, cùng với việc hoàn thiện chính sách, đặc biệt là Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, Việt Nam cần tiếp tục củng cố năng lực kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) kết quả giảm nhẹ phát thải và quản lý dữ liệu theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là những nhiệm vụ trọng tâm mà dự án CBIT hướng tới. Thông qua ba hợp phần, dự án đã hỗ trợ xây dựng hướng dẫn kỹ thuật, công cụ theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đồng thời tăng cường năng lực cho các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Những kết quả đạt được của dự án không chỉ góp phần thực hiện Khung minh bạch tăng cường theo Điều 13 của Thỏa thuận Paris mà còn tạo cơ sở kỹ thuật phục vụ triển khai các quy định trong nước về kiểm kê khí nhà kính và giảm nhẹ phát thải.

Bà Chu Thị Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ, sau hơn 4 năm triển khai, dự án CBIT đã đạt nhiều kết quả trong kiểm kê khí nhà kính, quản lý dữ liệu phát thải, theo dõi tài chính khí hậu và nâng cao năng lực chuyên môn.

Nổi bật là việc xây dựng 4 quy trình kiểm kê khí nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), góp phần chuẩn hóa phương pháp thu thập, tính toán và báo cáo dữ liệu phát thải. Đồng thời, dự án đã xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật cho lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, thủy sản và các nguồn phát thải lớn, tạo cơ sở hoàn thiện hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia.

Dự án cũng xây dựng dự thảo công cụ, biểu mẫu kiểm kê khí nhà kính đối với các nguồn phát thải lớn thuộc 4 lĩnh vực: năng lượng; các quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU); nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất khác (AFOLU); chất thải. Dự án kiến nghị bổ sung 271 chỉ tiêu thống kê phục vụ kiểm kê khí nhà kính nhằm hoàn thiện dữ liệu đầu vào, nâng cao chất lượng tính toán và báo cáo phát thải.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, dự án phát triển phần mềm theo dõi thực hiện NDC, cùng các biểu mẫu báo cáo điện tử, tạo nền tảng chuyển từ tổng hợp thủ công sang quản lý dữ liệu có hệ thống, phục vụ theo dõi tiến độ giảm phát thải và thực hiện nghĩa vụ báo cáo quốc tế.

Bên cạnh đó, dự án hỗ trợ thí điểm kiểm kê khí nhà kính tại Quảng Ninh, xây dựng báo cáo kiểm kê và đề xuất các biện pháp giảm nhẹ phát thải năm 2025. Kết quả giúp địa phương tích lũy kinh nghiệm thu thập dữ liệu, phối hợp liên ngành và lựa chọn giải pháp giảm phát thải, đồng thời cung cấp kinh nghiệm cho các địa phương khác.

Về tài chính khí hậu, dự án đã xây dựng sổ tay, biểu mẫu hướng dẫn theo dõi đầu tư công cho biến đổi khí hậu, có lồng ghép yếu tố giới và thí điểm trong lĩnh vực nông nghiệp. Từ đó, bước đầu hình thành phương pháp xác định, phân loại và tổng hợp các dòng vốn, nâng cao tính minh bạch trong quản lý nguồn lực phục vụ chuyển đổi xanh.

Một kết quả nổi bật khác là phát triển nguồn nhân lực. Dự án đã hỗ trợ trực tiếp 699 người, vượt mục tiêu 400 người; đào tạo 147 giảng viên, cao hơn mục tiêu 90 người. Các hoạt động tập huấn, hội thảo góp phần nâng cao năng lực kiểm kê, báo cáo và quản lý dữ liệu cho cán bộ, chuyên gia và doanh nghiệp.

Theo bảng đánh giá kết quả dự án, trong tổng số 12 chỉ số GEF, 4 chỉ số đạt mức xuất sắc (HS), 8 chỉ số đạt mức tốt (S). Trong đó, các chỉ số xuất sắc gồm số người hưởng lợi trực tiếp, số chuyên gia, giảng viên được đào tạo, nền tảng chia sẻ kiến thức và hoạt động phổ biến kết quả dự án.

Về định hướng hợp tác trong thời gian tới, đại diện UNDP tại Việt Nam nhấn mạnh việc kết thúc dự án không đồng nghĩa với kết thúc những nỗ lực tăng cường minh bạch khí hậu. Điều quan trọng là chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang tiếp nhận, vận hành và mở rộng các kết quả đã đạt được. Trên cơ sở đó, các hướng dẫn, biểu mẫu và phần mềm cần tiếp tục được đánh giá, hoàn thiện, từng bước tích hợp vào hệ thống quản lý khí nhà kính quốc gia; duy trì đào tạo, cập nhật dữ liệu và tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương nhằm đáp ứng các yêu cầu về minh bạch khí hậu.

Lan Anh