Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 theo hướng thay đổi một số mục tiêu của Đề án, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Cụ thể, Quyết định số 1919/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1 điều 1 về mục tiêu và khoản 2 điều 1 về giải pháp chủ yếu của Đề án. Theo đó, Quyết định sửa đổi mục tiêu tổng quát là phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hoàn thiện, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo thuận lợi để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, góp phần giảm chi phí huy động vốn, giảm mức rủi ro tín dụng quốc gia.
Mục tiêu cụ thể: đến năm 2030 đạt mức xếp hạng tín nhiệm từ Baa3 (đối với Moody's) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên.
Các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế vĩ mô giai đoạn 2026 - 2030: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%.

Tiếp tục củng cố an ninh năng lượng quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung, phát triển hạ tầng năng lượng, nâng cao năng lực dự trữ, bảo đảm khả năng cung ứng ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Các chỉ tiêu về tài khóa: kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm và kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP.
Các chỉ tiêu lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu các ngân hàng thương mại giai đoạn 2026 - 2030 tiệm cận chuẩn mực Basel III, muộn nhất đến năm 2030 đạt tỷ lệ an toàn vốn ở mức 8,625%; củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước khi điều kiện thuận lợi.
Các chỉ tiêu về xã hội: chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8.
Các chỉ tiêu về môi trường: tỷ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỷ lệ nước thải sinh hoạt tại các đô thị loại I trở lên được thu gom, xử lý đến năm 2030 đạt khoảng 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%.
Một trong những nhóm giải pháp trọng tâm của Đề án là xây dựng nền tài chính công vững mạnh, mở rộng cơ sở thu bền vững nhằm cải thiện các chỉ số nợ và thúc đẩy củng cố tài khóa.
Theo Quyết định, chính sách tài khóa tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với mục tiêu duy trì ổn định tài khóa trong trung và dài hạn.
Việc điều hành phải bảo đảm các chỉ tiêu bội chi ngân sách nhà nước, nợ công và nợ Chính phủ so với GDP theo các mục tiêu được Quốc hội phê duyệt.
Đồng thời, chính sách tài khóa mở rộng được áp dụng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền và tạo động lực tăng trưởng dài hạn.
Công tác quản lý nợ công cũng được yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả theo hướng kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng nợ công và tăng cường quản lý rủi ro danh mục nợ.
Đặc biệt, Đề án nhấn mạnh yêu cầu quản lý các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn phát sinh từ bảo lãnh Chính phủ, các dự án đối tác công tư và doanh nghiệp nhà nước nhằm hạn chế nguy cơ các nghĩa vụ này chuyển hóa thành nghĩa vụ của ngân sách nhà nước trong tương lai.
Bên cạnh đó, các giải pháp cải thiện xếp hạng tín nhiệm còn gắn với nâng cao chất lượng khu vực doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đổi mới quản trị doanh nghiệp và rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Ngoài việc sửa đổi các giải pháp chủ yếu nêu trên, Quyết định số 1919/QĐ-TTg cũng bổ sung thêm một số giải pháp thực hiện Đề án. Cụ thể, bổ sung giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng; nghiên cứu từng bước tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quản trị quốc gia nhằm đáp ứng tốt hơn xu hướng đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia như sau:
Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường: xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đẩy mạnh quản trị rủi ro khí hậu dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu theo vùng, dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái; chủ động di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ cao, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân. Xây dựng các chính sách thúc đẩy mô hình phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp. Kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính; xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu; từng bước xây dựng tiêu chuẩn tín chỉ carbon và phương pháp tạo tín chỉ carbon trong nước tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế.
Tiếp tục triển khai các giải pháp khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các đô thị lớn, làng nghề; tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đồng thời, phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững theo hướng đa mục đích, đa giá trị trên cơ sở quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng…
Nâng cao khả năng chống chịu trước các rủi ro bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng: tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và đối tác đầu tư nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường lớn và tăng khả năng chống chịu trước các xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới. Chủ động theo dõi, ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại, các tiêu chuẩn, quy định, hàng rào kỹ thuật thương mại quốc tế về môi trường, khí hậu đồng thời tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Đồng thời, tiếp tục củng cố an ninh năng lượng quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung, phát triển hạ tầng năng lượng, nâng cao năng lực dự trữ, bảo đảm khả năng cung ứng ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, qua đó nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc về cung và giá năng lượng.
Nghiên cứu từng bước tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào quản trị quốc gia nhằm đáp ứng tốt hơn xu hướng đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia: tăng cường công khai, minh bạch thông tin về các mục tiêu, kết quả thực hiện các cam kết phát triển bền vững, biến đổi khí hậu. Nghiên cứu từng bước lồng ghép đánh giá rủi ro do biến đổi khí hậu, rủi ro môi trường vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách tài khóa, đầu tư công và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Theo phân công tại Quyết định số 1919/QĐ-TTg, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án; tổ chức tổng kết, đánh giá thực hiện Đề án vào năm 2030; chủ trì, phối hợp với các cơ quan đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nội dung Đề án khi cần thiết; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tiếp nhận và xử lý các câu hỏi, đề nghị cung cấp thông tin liên quan từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tổ chức các hoạt động quảng bá tới nhà đầu tư, tổng hợp kết quả đánh giá báo cáo Thủ tướng Chính phủ.