Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các công trình, dự án lĩnh vực công thương
Thông báo nêu: Các dự án trọng điểm trong lĩnh vực công thương và xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển sản xuất, tăng cường năng lực hạ tầng, bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và tạo động lực phát triển trong giai đoạn tới; đây là 2 lĩnh vực có tính chất quyết định, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Bộ Công Thương cần phối hợp với các địa phương chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành thủ tục để khởi công, đẩy nhanh tiến độ những dự án nguồn điện đã lựa chọn được nhà đầu tư
Đối với các công trình, dự án lĩnh vực công thương, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo chủ đầu tư các công trình, dự án trọng điểm trong lĩnh vực công thương lập kế hoạch triển khai chi tiết, bảo đảm hoàn thành theo tiến độ được phê duyệt, trong đó xác định rõ mốc tiến độ, thời gian hoàn thành, xác định trách nhiệm của Bộ, cơ quan, các chủ thể tham gia bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và cam kết bằng văn bản, gửi Bộ Công Thương để tổng hợp, theo dõi, giám sát. Thực hiện chế độ báo cáo Bộ Công Thương định kỳ hàng quý về tiến độ thực hiện theo cam kết, trong đó nêu rõ những khó khăn, vướng mắc (nếu có) và đề xuất phương án giải quyết.
Bộ Tài chính với vai trò đại diện chủ sở hữu chỉ đạo người đại diện vốn tại PVN, EVN tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ các dự án có vai trò quyết định đối với cân đối cung cầu điện và an ninh năng lượng quốc gia giai đoạn 2028 - 2030.
Bộ Công Thương là cơ quan đầu mối, tiếp tục theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm trong lĩnh vực công thương; phối hợp với các cơ quan liên quan tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án, báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.
Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương triển khai ngay lựa chọn nhà đầu tư dự án nguồn điện trong Quy hoạch, Kế hoạch điện VIII chưa có nhà đầu tư như các Nhà máy điện khí LNG Nghi Sơn, Long Sơn…; hoàn thành trong quý IV năm 2026.
Đối với những dự án đã lựa chọn được nhà đầu tư như các Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, Thái Bình, Công Thanh, Quảng Trạch II, Hải Lăng giai đoạn 1, BOT Sơn Mỹ I, BOT Sơn Mỹ II, Bạc Liêu, Long An I, Ô Môn II, III, IV, Bộ Công Thương phối hợp với các địa phương chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành thủ tục để khởi công, đẩy nhanh tiến độ các dự án. Xử lý nghiêm theo quy định đối với chủ đầu tư các dự án chậm trễ, không triển khai theo chủ trương đầu tư được duyệt. Trường hợp nhà đầu tư không đủ năng lực để triển khai dự án đáp ứng yêu cầu tiến độ theo quy hoạch được duyệt, chủ động có phương án thay thế nhà đầu tư khác thực hiện dự án theo thẩm quyền.
Với dự án đang triển khai, các địa phương chỉ đạo chủ đầu tư dự án lập kế hoạch triển khai chi tiết, bảo đảm hoàn thành theo tiến độ được phê duyệt, huy động tối đa nguồn lực đẩy nhanh tiến độ triển khai, bảo đảm tiến độ, chất lượng, mục tiêu đầu tư như đã cam kết.
Ban hành Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 2888/QĐ-BGDĐT ngày 2/10/2026 về Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân.
Việc ban hành Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân nhằm bảo đảm tính thống nhất trong các yêu cầu cốt lõi của chương trình đào tạo, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo phát huy quyền tự chủ trong thiết kế và phát triển chương trình phù hợp với định hướng nghiên cứu, điều kiện thực tiễn và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của quốc gia.
Chuẩn cũng hướng tới tăng tính liên thông, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và bảo đảm chất lượng trong đào tạo nhân lực trình độ cao về điện hạt nhân.

Điểm đáng chú ý của Chuẩn là đào tạo nhân lực điện hạt nhân được tiếp cận theo hướng liên ngành, với sự tham gia của nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Cụ thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định danh mục 22 ngành về điện hạt nhân trình độ thạc sỹ và tiến sỹ, gồm 7 ngành cốt lõi và 15 ngành phụ trợ - liên ngành.
Nhóm ngành cốt lõi gồm vật lý nguyên tử và hạt nhân; kỹ thuật hạt nhân; vật lý kỹ thuật; kỹ thuật nhiệt; kỹ thuật năng lượng; kỹ thuật điện; kỹ thuật điều khiển và tự động hóa.
Nhóm các ngành phụ trợ - liên ngành thuộc nhiều lĩnh vực như cơ khí, cơ điện tử, môi trường, vật liệu, xây dựng, hóa học, địa chất, quản lý năng lượng. Các ngành khoa học máy tính, công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu cũng nằm trong danh mục này.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc phân nhóm được thực hiện dựa trên mức độ gắn và trực tiếp của nền tảng đào tạo đối với các quá trình vật lý, hệ thống công nghệ chính và chức năng vận hành - an toàn của nhà máy điện hạt nhân. Người tốt nghiệp được cấp bằng theo ngành đào tạo tương ứng; phụ lục văn bằng được phép ghi chú “Điện hạt nhân” hoặc tương đương.
Chuẩn chương trình đào tạo xác định 3 định hướng chuyên sâu gồm: công nghệ và hệ thống năng lượng điện hạt nhân; an toàn, an ninh và quản lý hạt nhân; kỹ thuật hạt nhân số và hạ tầng thông minh. Chương trình đào tạo không chỉ tập trung vào các nội dung chuyên môn truyền thống như vật lý và công nghệ lò phản ứng, kỹ thuật nhiệt, hệ thống năng lượng, kỹ thuật điện, điều khiển - tự động hóa, an toàn và an ninh hạt nhân mà còn tích hợp các lĩnh vực công nghệ mới.
Đề xuất quy định về thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí
Bộ Công Thương đề xuất quy định về hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí.

Luật Dầu khí năm 2026 bổ sung quy định khung về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí
Trong đó, dự thảo Nghị định hướng dẫn triển khai hoạt động CCS trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí. Cụ thể, nhà thầu đề xuất bổ sung hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí trên cơ sở báo cáo đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂ và kế hoạch triển khai hoạt động CCS theo quy định tại điều 50 Luật Dầu khí.
Nhà thầu được tiếp nhận CO₂ phát sinh từ hoạt động dầu khí và từ các hoạt động phát thải khác để thực hiện xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO₂ trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí. Việc thu giữ CO₂ tại cơ sở phát thải ngoài hoạt động dầu khí được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh nội dung hợp đồng dầu khí và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh để bổ sung hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí được thực hiện theo quy định tại điều 18 Luật Dầu khí và điều 26 Nghị định này.
Trường hợp thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ hoặc vùng ảnh hưởng áp suất vượt ra ngoài diện tích hợp đồng dầu khí hiện hữu sang lô mở liền kề, việc đề xuất, thẩm định, chấp thuận mở rộng diện tích hợp đồng để phục vụ mục đích lưu trữ CO₂ được thực hiện theo quy định tại khoản 4 điều 21 Luật Dầu khí và điều 35 Nghị định này.
Kế hoạch đại cương triển khai hoạt động CCS và kế hoạch triển khai hoạt động CCS có thể được lập trong kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí, kế hoạch phát triển mỏ dầu khí hoặc các kế hoạch điều chỉnh tương ứng hoặc được lập riêng; việc lập, thẩm định, phê duyệt thực hiện theo quy định tương ứng đối với kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí và kế hoạch phát triển mỏ dầu khí.
Kế hoạch thu dọn công trình CCS được lập trong kế hoạch thu dọn công trình dầu khí, kế hoạch điều chỉnh tương ứng hoặc được lập riêng và thực hiện theo quy định về thu dọn công trình dầu khí.
Đáng chú ý, dự thảo Nghị định quy định nhà thầu triển khai hoạt động CCS thực hiện quyền sở hữu, trao đổi, mua bán tín chỉ carbon theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Doanh thu từ bán tín chỉ carbon được hạch toán theo quy định tại khoản 3 điều 51 Luật Dầu khí như sau:
Doanh thu từ bán tín chỉ carbon được sử dụng để bù đắp chi phí hoạt động CCS, tính trên phần tăng thêm so với mức thu hồi chi phí đã được xác định trong hợp đồng dầu khí.
Phần doanh thu từ tín chỉ carbon vượt quá tổng chi phí CCS chưa được thu hồi được phân chia giữa nhà thầu và nước chủ nhà theo tỷ lệ chia dầu khí lãi quy định trong hợp đồng dầu khí.
Việc xác định khối lượng CO₂ lưu trữ để phát hành tín chỉ carbon phải dựa trên kết quả đo đạc, kiểm chứng thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn quốc tế về kiểm chứng lượng CO₂ lưu trữ.
Nhà thầu có trách nhiệm tổ chức quản lý, lưu trữ và cung cấp số liệu, tài liệu về lượng CO₂ được thu giữ, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ phục vụ việc đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác nhận lượng giảm phát thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.