Kinh tế xanh

Cơ hội huy động tài chính xanh từ thị trường carbon

Chủ nhật, 4/1/2026 | 11:03 GMT+7
Thị trường carbon có tiềm năng rất lớn và mang ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam, trước hết với vai trò là một công cụ huy động tài chính xanh hiệu quả.

Thực tế cho thấy, việc triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nguồn vốn lớn, thời gian dài và năng lực công nghệ cao. Đây là thách thức không nhỏ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong bối cảnh đó, thị trường carbon được xem là giải pháp linh hoạt, cho phép doanh nghiệp kết hợp nhiều phương án khác nhau để tối ưu hóa chi phí giảm phát thải, thay vì chỉ phụ thuộc vào đầu tư công nghệ ngay từ đầu.

Theo Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các doanh nghiệp tham gia thị trường carbon sẽ sớm làm quen với việc kiểm kê, công bố dữ liệu phát thải khí nhà kính, cũng như thực hiện đầy đủ quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Đây là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị phát thải, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Sự chuẩn bị này càng trở nên cần thiết khi nhiều quốc gia và khu vực nhập khẩu đang xem xét áp dụng các hàng rào thuế quan và kỹ thuật liên quan đến khí hậu. Không chỉ Liên minh châu Âu (EU) mà Hoa Kỳ, Anh và nhiều nền kinh tế lớn khác cũng đang xây dựng các công cụ chính sách tương tự. Đáng chú ý, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU dự kiến sẽ được triển khai mạnh trong giai đoạn 2026 – 2027, tác động trực tiếp đến các ngành sản xuất và xuất khẩu có cường độ phát thải cao.

Trong tối ưu hóa tài chính, thị trường carbon đang mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn vốn xanh cho doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có chiến lược giảm phát thải rõ ràng, minh bạch dữ liệu và chủ động tham gia thị trường thường được các tổ chức tài chính, nhà đầu tư và đối tác quốc tế đánh giá cao hơn. Nhờ đó, họ có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, tài chính khí hậu và những chương trình hỗ trợ chuyển giao công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh. Về dài hạn, việc tham gia thị trường carbon góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm rủi ro thương mại và cải thiện hình ảnh thương hiệu.

Việc tham gia vào thị trường carbon giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị phát thải, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế. (Ảnh minh họa)

Theo kết quả nghiên cứu do Công ty TNHH Kiến tạo khí hậu xanh (GreenCIC) thực hiện trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình chuyển đổi năng lượng ETP/UNOPS, phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, thị trường carbon trong nước có thể giúp Việt Nam tiết kiệm khoảng 400 - 800 triệu USD chi phí đầu tư để đạt các mục tiêu giảm phát thải. Bên cạnh đó, thị trường carbon quốc tế có khả năng huy động thêm từ 500 triệu đến 2 tỷ USD, tùy theo kịch bản triển khai và mức độ sẵn sàng về thể chế, kỹ thuật và thị trường. Đây là nguồn lực rất quan trọng trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải là rất lớn.

Về cách thức tham gia thị trường, Việt Nam đang tiếp cận theo lộ trình từng bước, có kiểm soát. Trong giai đoạn thí điểm, đối tượng tham gia chính là các doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực phát thải lớn như nhiệt điện, sắt thép và xi măng, đặc biệt là các cơ sở nằm trong danh mục phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính và được phân bổ hạn ngạch phát thải. Đây sẽ là nhóm chủ thể vừa có nghĩa vụ tuân thủ vừa có động lực trực tiếp tham gia giao dịch trên thị trường carbon.

Đối với các tổ chức và doanh nghiệp ngoài phạm vi điều chỉnh trực tiếp của thị trường carbon tuân thủ (ETS), họ có thể tham gia thị trường thông qua việc phát triển các dự án giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon, tạo ra tín chỉ carbon để cung ứng cho thị trường trong nước hoặc quốc tế, khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn, đo đạc - báo cáo - thẩm tra (MRV).

Đối với người dân, việc tham gia thị trường carbon thường không diễn ra một cách trực tiếp mà thông qua các tổ chức đại diện, như hợp tác xã, doanh nghiệp, chủ rừng, hoặc các chương trình, dự án carbon trong lĩnh vực lâm nghiệp, nông nghiệp, năng lượng tái tạo hay quản lý chất thải. Cách tiếp cận này giúp giảm chi phí giao dịch, đồng thời bảo đảm tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong quá trình tham gia thị trường.

Sau giai đoạn thí điểm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá hiệu quả vận hành, cơ quan quản lý nhà nước có thể từng bước mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia, cả về ngành, lĩnh vực và loại hình chủ thể, qua đó hình thành một thị trường carbon ngày càng hoàn chỉnh, minh bạch và hiệu quả hơn.

Mặc dù thị trường carbon mở ra nhiều cơ hội tiềm năng nhưng để tham gia, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những khó khăn. Theo bà Nguyễn Hồng Loan, Giám đốc GreenCIC, doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc xây dựng một chiến lược tham gia thị trường carbon một cách bài bản, hiệu quả, chưa rõ nên ưu tiên giảm phát thải ở đâu, đầu tư vào công nghệ nào, khi nào nên mua bán hạn ngạch hay tín chỉ carbon, làm thế nào để kết nối thị trường carbon với chiến lược sản xuất, kinh doanh và ESG tổng thể của doanh nghiệp.

Cùng với đó, việc tăng cường năng lực nội bộ, thiết lập hệ thống MRV, cũng như đầu tư vào các giải pháp và công nghệ giảm phát thải đều cần nguồn vốn đáng kể. Trong khi các cơ chế tài chính xanh đang mở ra nhiều cơ hội, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng về hồ sơ, dữ liệu và năng lực quản trị để tiếp cận được các nguồn vốn này.

Theo bà Nguyễn Hồng Loan, để chủ động và tham gia hiệu quả vào giai đoạn thí điểm của thị trường carbon, doanh nghiệp cần làm nâng cao hiểu biết về thị trường carbon, không chỉ dừng ở khái niệm mà cần nắm được cách thức vận hành, các nghĩa vụ tuân thủ, quy định pháp lý và phương pháp luận liên quan đến hạn ngạch và tín chỉ carbon. Doanh nghiệp cũng cần tăng cường năng lực kiểm kê khí nhà kính và hệ thống MRV, bởi đây là “ngôn ngữ chung” của thị trường carbon và cũng là điều kiện để tiếp cận những nguồn vốn xanh.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên chủ động rà soát các cơ hội giảm phát thải trong nội bộ, tìm hiểu, tiếp cận những công nghệ, giải pháp và thực hành tốt có thể triển khai theo lộ trình phù hợp với khả năng tài chính. Đồng thời, doanh nghiệp cần tìm hiểu sớm các kênh hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ những chương trình hỗ trợ của Nhà nước, tổ chức quốc tế đến các định chế tài chính xanh để không bỏ lỡ cơ hội trong giai đoạn thí điểm.

An Vinh (t/h)