Theo đó, quá trình cấp mã số phải bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ rừng. Mã số chỉ được cấp cho diện tích rừng sản xuất là rừng trồng thuộc quy hoạch lâm nghiệp và được trồng trên diện tích đất sử dụng hợp pháp của chủ rừng theo quy định của pháp luật. Khuyến khích chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ hợp tác đề nghị cấp mã số theo hình thức nhóm chủ rừng với diện tích đề nghị cấp mã số tối thiểu từ 100 ha trở lên.
Mã số rừng sản xuất là rừng trồng sẽ bao gồm các thông tin về chủ rừng; số hiệu lô, khoảnh, tiểu khu rừng, xã, tỉnh; diện tích; loài cây trồng, năm trồng và tọa độ địa lý của lô rừng. Thẩm quyền cấp, cấp lại và hủy mã số thuộc về Chi cục Kiểm lâm hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Chủ rừng là tổ chức nộp đơn theo mẫu riêng. Cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, nhóm hộ hoặc tổ hợp tác sử dụng mẫu dành cho nhóm chủ thể này. Trường hợp đăng ký theo nhóm, hồ sơ phải có giấy ủy quyền của các chủ rừng cho trưởng nhóm. Mỗi hồ sơ chỉ cần nộp một bộ, trực tiếp tại bộ phận một cửa, qua bưu chính hoặc trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ hợp tác được khuyến khích đăng ký cấp mã số rừng trồng theo hình thức nhóm chủ rừng, với diện tích tối thiểu từ 100 ha trở lên
Cơ quan cấp mã kiểm tra ngay hồ sơ nộp trực tiếp; với hồ sơ gửi qua bưu chính hoặc trực tuyến, thời hạn kiểm tra thành phần là 1 ngày làm việc. Nếu hồ sơ hợp lệ, trong 10 ngày làm việc, cơ quan quản lý đối chiếu thông tin diện tích với hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
Khi dữ liệu đồng bộ, chủ rừng được cấp mã, gắn mã QR và cập nhật thông tin để tra cứu. Nếu diện tích chưa đồng bộ với hệ thống, trong 5 ngày làm việc, cơ quan cấp mã phải thông báo để xác minh, bổ sung hồ sơ trước khi giải quyết.
Mã số có thể bị hủy nếu chủ rừng không thông báo trong vòng 15 ngày kể từ khi thay đổi chủ rừng hoặc biến động diện tích. Việc làm giả, sửa đổi hoặc gian lận thông tin trên giấy cấp mã cũng là căn cứ hủy mã. Trường hợp thông tin diện tích không đồng bộ với hệ thống theo dõi diễn biến rừng hoặc mã từng bị hủy, chủ rừng có thể đề nghị cấp lại theo trình tự cấp mới.
Sau khi được cấp mã, chủ rừng phải thông báo khi thay đổi chủ sở hữu, mục đích sử dụng, loại rừng, diện tích hoặc hiện trạng rừng. Cơ quan quản lý có trách nhiệm cập nhật các biến động, đồng bộ với hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và công khai danh sách mã đã cấp, mã bị hủy trên cổng thông tin điện tử.
Bên cạnh đó, văn bản hợp nhất quy định việc quản lý giống cây trồng lâm nghiệp theo chuỗi, trước hết đối với các loài cây lâm nghiệp chính, nhằm bảo đảm nguồn gốc và chất lượng giống. Tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm về chất lượng giống được nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất và kinh doanh.
Với loài cây trồng lâm nghiệp chính, vật liệu giống và cây giống chỉ được sản xuất, kinh doanh khi được nhân từ giống hoặc nguồn giống đã được công nhận. Hồ sơ của lô giống phải được lưu giữ để truy xuất nguồn gốc; nội dung ghi nhãn, quảng cáo phải trung thực, không gây nhầm lẫn về tên, nguồn gốc, chất lượng và phạm vi sử dụng.
Văn bản cũng quy định giống chưa được công nhận chỉ được xuất khẩu, nhập khẩu để nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm hoặc trao đổi quốc tế không vì mục đích thương mại và phải có giấy phép. Thời hạn giải quyết là 4 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; giấy phép có hiệu lực không quá 12 tháng.
Đối với trồng rừng thay thế, địa phương nơi chủ đầu tư nộp tiền phải ưu tiên thực hiện trên địa bàn. Chỉ khi không còn quỹ đất hoặc điều kiện đất đai không phù hợp, địa phương mới đề xuất chuyển kinh phí sang tỉnh khác. Rừng hình thành từ nguồn tiền này phải được nghiệm thu và bảo đảm chất lượng theo quy định.