Năng lượng phát triển

Bản tin năng lượng số 13/2026

Thứ hai, 13/4/2026 | 09:00 GMT+7
Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.

Quốc hội thông qua Nghị quyết về giảm thuế xăng, dầu

Ngày 12/4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 460/460 đại biểu (chiếm 92% tổng số đại biểu Quốc hội và đạt 100% số đại biểu tham gia biểu quyết) tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.

Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: quochoi.vn)

Nghị quyết quy định mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ ethanol), dầu diezel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay là 0 đồng/lít. Đây là mức giảm sâu nhất từ trước đến nay đối với sắc thuế này. Xăng, dầu diezel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 16/4/2026 đến hết ngày 30/6/2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều 4.

Để đảm bảo việc điều hành thị trường xăng, dầu và nhiên liệu bay trong nước phù hợp với diễn biến giá trên thị trường thế giới, Quốc hội giao Chính phủ ban hành Nghị quyết để quyết định điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) thời gian có hiệu lực của Nghị quyết này; trường hợp khẩn cấp, điều chỉnh quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trong thời gian Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định tại Nghị quyết này với các văn bản quy phạm pháp luật khác về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này. Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu xăng, dầu diezel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng khi bán ra và ở khâu nhập khẩu. Các nội dung về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt không quy định tại Nghị quyết này được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế, quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Phê duyệt Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 637/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu.

Nhà máy thủy điện Hòa Bình thuộc Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu

Theo Quyết định, Danh mục gồm 9 nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu sau:

Nhà máy thủy điện Sơn La (công suất lắp đặt 2.400 MW)

Nhà máy thủy điện Hòa Bình (công suất lắp đặt 1.920 MW)

Nhà máy thủy điện Lai Châu (công suất lắp đặt 1.200 MW)

Nhà máy thủy điện Tuyên Quang (công suất lắp đặt 342 MW)

Nhà máy thủy điện Ialy (công suất lắp đặt 720 MW)

Nhà máy thủy điện Trị An (công suất lắp đặt 400 MW)

Nhà máy thủy điện Hòa Bình mở rộng (công suất lắp đặt 480 MW)

Nhà máy thủy điện Ialy mở rộng (công suất lắp đặt 360 MW)

Nhà máy thủy điện Trị An mở rộng (công suất lắp đặt 200 MW)

Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 7/4/2026 và thay thế Quyết định số 2012/QĐ-TTg ngày 24/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. 

Bộ Công Thương có trách nhiệm rà soát, đánh giá các nhà máy thủy điện được đầu tư và đưa vào vận hành để đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt bổ sung vào Danh mục các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu; quyết định danh mục các nhà máy thủy điện phối hợp vận hành với các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu.

Quý I năm 2026: Sản lượng điện toàn hệ thống đạt 76,86 tỷ kWh, tăng 6,6% so với cùng kỳ

Theo báo cáo mới của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 3 đạt 28,6 tỷ kWh. Lũy kế quý I năm 2026, sản lượng toàn hệ thống đạt 76,86 tỷ kWh – tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng huy động các loại hình nguồn điện toàn hệ thống trong quý I năm 2026 như sau: 

Thủy điện: 16,09 tỷ kWh, chiếm 20,9%. 

Nhiệt điện than: đạt 40,58 tỷ kWh, chiếm 52,8%.

Tuabin khí: 5,4 tỷ kWh, chiếm 7%.

Năng lượng tái tạo: 11,8 tỷ kWh, chiếm 15,4% (trong đó điện mặt trời đạt 6,98 tỷ kWh, điện gió đạt 4,33 tỷ kWh).

Điện nhập khẩu: 2,92 tỷ kWh, chiếm 3,8%...

Sản lượng điện truyền tải 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 60,9 tỷ kWh.

Lũy kế quý I năm 2026, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 76,86 tỷ kWh – tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2025

Về tình hình triển khai các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm trong quý I năm 2026: dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I đạt tiến độ tổng thể 98,4%, chuẩn bị hòa đồng bộ tổ máy 1; đã ký hợp đồng EPC dự án Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II; dự án Thủy điện Hòa Bình mở rộng đã được Hội đồng Kiểm tra nhà nước chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành thi công xây dựng...

Trong quý I năm 2026, EVN và các đơn vị đã khởi công 46 công trình và hoàn thành đóng điện 39 công trình lưới điện từ 110 đến 500kV (1 dự án 500kV, 7 dự án 220kV và 31 dự án 110kV); trong đó có các dự án quan trọng như: nâng công suất trạm biến áp 500kV Phố Nối, đường dây 220kV Dốc Sỏi - Dung Quất, đấu nối 500kV sau trạm biến áp 500kV Vĩnh Yên...

Ngân Hà