Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trước sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu chính ngạch đối với một số ngành hàng trái cây chủ lực, nhu cầu cấp và sử dụng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói ngày càng tăng, để quản lý tốt chất lượng nông sản xuất khẩu, cần có cơ chế quản lý chặt chẽ và chế tài xử lý những vi phạm trong sản xuất, xuất khẩu nông sản.
Ngày 24/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 38/2026/NĐ-CP, cụ thể hóa hành lang pháp lý cho quá trình sản xuất nông sản xuất khẩu, quy định hồ sơ thủ tục đăng ký tinh gọn, giúp cho tổ chức, cá nhân và cơ quan quản lý dễ thực hiện tiếp nhận, minh bạch hóa hoạt động kiểm tra cấp mới và tạm dừng, thu hồi các mã số khi không tuân thủ theo quy định.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Về công tác quản lý: kết quả tiếp nhận, kiểm tra các hồ sơ đăng ký cấp mới tuy được tổng hợp và báo cáo định kỳ hàng tháng gửi về cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định, tuy nhiên Nghị định chưa quy định cụ thể thời gian có văn bản phản hồi về kết quả phê duyệt mã số đã cấp, công tác phê duyệt mã số.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Theo Nghị định, việc cấp mã số đã giao cho tỉnh thực hiện nhưng việc sử dụng mã số xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào thông báo phê duyệt của cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Vì vậy, các hồ sơ cấp mới đề nghị phê duyệt đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể sẽ nhập thông tin dữ liệu như thế nào và truy cập ở đâu để cơ quan quản lý địa phương và doanh nghiệp tra cứu, theo dõi tiến độ hoạt động của mã số.
Về các quy định kiểm tra, giám sát: chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể những trường hợp nào được phép và không được phép cấp lại mã số vùng trồng/mã số cơ sở đóng gói.
Đối với nội dung thực hiện kiểm tra, đánh giá các điều kiện kỹ thuật của vùng trồng và cơ sở đóng gói khi đăng ký cấp mới hoặc giám sát duy trì, Nghị định 38/2026/NĐ-CP chưa có tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để tham chiếu đánh giá và chưa có quy định về định mức đánh giá (mức độ đạt yêu cầu, lỗi nặng, lỗi nhẹ có thể khắc phục) trong biên bản kiểm tra vùng trồng/cơ sở đóng gói.
Do đó, việc xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định là cần thiết, cấp bách nhằm kịp thời thực hiện chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính; giảm thời gian, chi phí tuân thủ trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu đối với nông sản xuất khẩu.
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 của Chính phủ về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tập trung thể chế hóa toàn diện các giải pháp cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính lâm thời quy định tại Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói với nhiều nội dung cải cách đột phá.
Cụ thể, cải cách thẩm quyền triệt để: UBND cấp xã là cơ quan đầu mối trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục cấp, cấp lại, hậu kiểm, tạm dừng, thu hồi, phục hồi mã số. Quy trình được thực hiện hoàn toàn trực tuyến trên môi trường mạng qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Chuyển đổi sang cơ chế "hậu kiểm": đối với trường hợp nông sản tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu sang thị trường không yêu cầu mã số, UBND cấp xã thực hiện cấp mã số tự động trên môi trường mạng trong vòng tối đa 3 ngày làm việc mà không cần tiền kiểm. Việc kiểm tra điều kiện kỹ thuật sẽ được thực hiện bằng hình thức hậu kiểm sau đó. Tiền kiểm chỉ áp dụng khi nước nhập khẩu có yêu cầu chính thức (thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc).
Đơn giản hóa hồ sơ đất đai: thay thế các yêu cầu hồ sơ phức tạp bằng việc định danh thửa đất trực tiếp qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh thửa đất, người dân được tự kê khai diện tích và vị trí, UBND cấp xã chỉ đạo xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.
Hệ thống xử lý nghiệp vụ điện tử tập trung: Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm vận hành Hệ thống xử lý nghiệp vụ tập trung, kết nối và công khai dữ liệu trực tuyến với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản dùng chung toàn quốc để cơ quan quản lý và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, theo dõi tiến độ.
Đề cao trách nhiệm tự kê khai: tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác, trung thực của thông tin kê khai. Quy định rõ tiêu chí, phân loại lỗi khắc phục trong biên bản kiểm tra; đặt rõ thời hạn tạm dừng mã số tối đa 60 ngày để điều tra nguyên nhân trước khi thực hiện thu hồi.