Quy hoạch được xây dựng trong bối cảnh diện tích rừng tăng đều qua các năm nhưng chất lượng rừng chưa cao, nhất là rừng tự nhiên.
Theo thống kê của Cục Lâm nghiệp, có tới 66,5% rừng nghèo và 24,8% rừng trung bình. Năng suất rừng trồng thấp, chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ, chưa đáp ứng được đòi hỏi của ngành chế biến gỗ và xuất khẩu. Trình độ công nghệ trong các lĩnh vực của ngành còn thấp; môi trường đầu tư nhiều rủi ro. Tình trạng vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng như chặt phá, xâm lấn, khai thác rừng trái phép vẫn xảy ra.
![](/userfile/User/thanhtam/images/2024/6/17/lam-nghiep-20240617144137852.jpg)
Nâng cao diện tích, chất lượng rừng
Vì vậy, để khắc phục những tồn tại này, Quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 chú trọng nâng cao chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên hiện có. Tốc độ tăng giá trị gia tăng sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 5 - 5,5%/năm. Trồng rừng sản xuất bình quân 238.000 ha/năm; trồng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng bình quân 8.600 ha/năm. Phục hồi rừng tự nhiên bình quân 22.500 ha/năm. Diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đến năm 2030 đạt trên 1 triệu ha.
Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025 và 25 tỷ USD vào năm 2030. Giá trị tiêu thụ đồ gỗ và lâm sản trong nước đạt 5 tỷ USD vào năm 2025 và 6 tỷ USD vào năm 2030. Thu dịch vụ môi trường rừng tăng bình quân 5%/năm. Tổng thu dịch vụ môi trường rừng đạt 3.500 tỷ/năm giai đoạn 2021 - 2025 và 4.000 tỷ đồng giai đoạn 2026 - 2030.
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030 là 15,848 triệu ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng chiếm 15,5%, rừng phòng hộ chiếm 33%, rừng sản xuất chiếm 51,5%. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định từ 42 - 43%.
Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục nghiên cứu dự thảo quy hoạch. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm rà soát, bảo đảm chính xác số liệu về diện tích đất rừng, rừng của các địa phương; xác định rõ diện tích của từng loại rừng trên đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, diện tích rừng trên đất khác (đất nương rãy, vườn đồi).
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, Quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia cần hạn chế tối đa việc điều chỉnh, đưa ra ngoài quy hoạch đối với diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ bởi rừng đang là lợi thế của Việt Nam, không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn giúp bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên. Theo đó, phải thống kê đầy đủ diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất nhằm chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đầu vào, từ đó ban hành các chính sách khuyến khích sản xuất, phát triển lâm nghiệp.
Dự thảo Quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 đã được hội đồng thẩm định thống nhất thông qua, sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới.