Quy định nguyên tắc áp dụng biểu giá chi phí tránh được cho nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ
Thông tư số 20/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 2/6/2026. Việc sửa đổi Thông tư được thực hiện trên cơ sở Luật Điện lực số 61/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 94/2025/QH15 và các quy định liên quan về tổ chức, vận hành thị trường điện. Theo Bộ Công Thương, mục tiêu là hoàn thiện cơ chế giá điện minh bạch, phù hợp thực tiễn vận hành hệ thống và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo quy mô nhỏ.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc sửa đổi, bổ sung khái niệm mùa mưa và mùa khô theo từng miền, làm cơ sở quan trọng để tính toán giá điện. Cụ thể, mùa mưa ở miền Bắc được xác định từ ngày 1/7 đến hết ngày 31/10; miền Trung từ ngày 15/8 đến ngày 15/12; miền Nam từ ngày 1/8 đến ngày 1/12. Ngược lại, mùa khô được tính tương ứng cho các khoảng thời gian còn lại của năm ở từng miền.

Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, Thông tư cũng làm rõ cách xác định miền Bắc, Trung, Nam theo ranh giới điều độ hệ thống điện, thay vì đơn thuần theo địa giới hành chính. Điều này giúp thống nhất trong vận hành và tính toán giá điện, nhất là trong bối cảnh hệ thống điện ngày càng liên kết chặt chẽ.
Khái niệm “nhà máy năng lượng tái tạo nhỏ” cũng được chuẩn hóa theo quy mô công suất do Bộ Công Thương quy định, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho các chủ đầu tư. Cơ quan chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất biểu giá chi phí tránh được được xác định rõ là Cục Điện lực (thuộc Bộ Công Thương), thay cho cách gọi chung trước đây.
Thông tư sửa đổi quy định về thời hạn hợp đồng mua bán điện giữa bên bán và bên mua. Theo đó, PPA có hiệu lực kể từ ngày ký và chấm dứt sau tối đa 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại. Quy định này tạo khung pháp lý ổn định dài hạn cho nhà đầu tư, đồng thời phù hợp với vòng đời kinh tế của các dự án năng lượng tái tạo nhỏ.
Phần phụ lục ban hành kèm theo Thông tư đưa ra phương pháp tính toán chi tiết biểu giá chi phí tránh được, bao gồm ba cấu phần chính: giá điện năng, tổn thất truyền tải và giá công suất.
Đối với giá điện năng, mức giá được xác định dựa trên chi phí nhiên liệu trung bình của các nhà máy nhiệt điện có chi phí biến đổi cao nhất được huy động trong hệ thống. Giá này được điều chỉnh theo biến động nhiên liệu và tính trung bình theo năm. Đáng chú ý, giá điện năng dư được quy định bằng 50% mức giá trong các giờ thấp điểm của mùa mưa - cơ chế nhằm khuyến khích tối ưu vận hành hệ thống.
Về tổn thất truyền tải, Thông tư đưa ra công thức tính riêng cho từng miền, có cơ chế “thưởng - phạt” tùy thuộc vào vị trí kết nối và chiều luồng công suất trên đường dây 500kV. Điều này phản ánh đúng chi phí thực tế và khuyến khích phân bổ nguồn điện hợp lý theo vùng.
Đối với giá công suất tránh được, cơ sở tính toán là nhà máy nhiệt điện chu trình hỗn hợp (CCGT) thay thế. Các thông số đầu vào gồm suất đầu tư, chi phí vận hành, tỷ lệ vốn vay - vốn chủ, lãi suất và hệ số chiết khấu (biểu giá chi phí tránh được tối đa 10%). Sau khi tính toán chi phí đầu tư hàng năm và điều chỉnh theo tổn thất truyền tải, giá công suất phát điện tránh được được xác định theo công thức chia cho số giờ cao điểm mùa khô.
Phát triển điện mặt trời áp mái để góp phần giảm áp lực cung ứng điện
Mới đây, báo Công Thương phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) tổ chức tọa đàm "Tiết kiệm điện và điện mặt trời áp mái: Giải pháp giảm áp lực cung ứng điện giai đoạn 2026 – 2030”.
Tại tọa đàm, thông tin về việc phát triển năng lượng tái tạo, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) Trịnh Quốc Vũ cho biết, trong Quy hoạch điện VIII, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển các nguồn điện với một kịch bản phát triển năng lượng tái tạo rất tham vọng. Theo đó, từ nay đến năm 2030, tổng công suất điện mặt trời được định hướng phát triển trong khoảng từ 46.000 đến 73.000 MW. Nếu nhìn vào thực tế hiện nay, tổng công suất điện mặt trời của Việt Nam, bao gồm điện mặt trời mái nhà và điện mặt trời quy mô lớn đã đạt hơn 19.000 MW. Với quy mô đó, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về phát triển điện mặt trời. Tuy nhiên, theo định hướng mới của Quy hoạch điện VIII, quy mô phát triển lĩnh vực này trong thời gian tới sẽ còn tăng rất nhanh và rất mạnh.
Trong tổng công suất khoảng 46.000 MW điện mặt trời, mục tiêu đặt ra là phát triển khoảng 26.000 MW điện mặt trời mái nhà và hơn 20.000 MW điện mặt trời tập trung. Để hiện thực hóa mục tiêu này, trước hết, trong Quy hoạch điện VIII, Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu đến năm 2030 sẽ có 50% mái nhà của các cơ quan công sở và hộ gia đình được lắp đặt, che phủ bằng điện mặt trời.

Điện mặt trời áp mái được coi là một trong những giải pháp quan trọng góp phần giảm áp lực cung ứng điện
Để đạt được mục tiêu đó, hiện nay, Bộ Công Thương đang được Chính phủ giao xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một quyết định về cơ chế khuyến khích, thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà trong các hộ gia đình. Dự thảo quyết định này đã được xây dựng, gửi xin ý kiến các Bộ, ngành và hiện đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Ông Trịnh Quốc Vũ nhấn mạnh: Bộ Công Thương kỳ vọng, khi các cơ chế hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà cho hộ gia đình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sẽ là cú hích quan trọng để tạo thêm động lực, đồng thời tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn tới.
Theo ông, nếu chúng ta có được cơ chế phù hợp, đồng thời tháo gỡ các rào cản và vướng mắc về thủ tục hành chính thì hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng mục tiêu phát triển công suất và sản lượng điện mặt trời mái nhà theo Quy hoạch điện VIII là khả thi.
Bên cạnh đó, theo thời gian, giá bán lẻ điện cũng có thể chịu tác động từ việc giá nhiên liệu đầu vào tăng lên nên vẫn sẽ có những biến động nhất định. Trong khi đó, điện mặt trời mái nhà lại có mức đầu tư tương đối ổn định hơn và hiệu quả có thể nhìn thấy rõ. Vì vậy, cơ quan chức năng rất mong các khách hàng nhận diện đầy đủ những ưu thế của điện mặt trời mái nhà để tiếp tục đầu tư trong thời gian tới.
Khởi công dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1
Mới đây, Lễ khởi công dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1 đã diễn ra tại khu Cài (phường Hoành Bồ), tỉnh Quảng Ninh. Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1 là dự án điện gió đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh. Dự án có công suất 200MW, bao gồm 32 tuabin gió hiện đại và trạm biến áp 220kV cùng hệ thống đường dây đấu nối đồng bộ. Với tiến độ vận hành vào năm 2028, dự án sẽ cung cấp gần 600 triệu kWh điện sạch mỗi năm, đóng góp tích cực bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội theo hướng xanh và bền vững.
Dự án do Liên danh nhà đầu tư Công ty CP Tập đoàn đầu tư xây dựng Cường Thịnh Thi và Công ty CP Ea Súp 5 làm chủ đầu tư với mức đầu tư 7.290 tỷ đồng.
Dự tính dự án sẽ mang lại những hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực như: giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đóng góp ngân sách địa phương từ 80 đến 100 tỷ đồng mỗi năm, góp phần thúc đẩy và duy trì tăng trưởng kinh tế của tỉnh, thúc đẩy du lịch trải nghiệm của khu vực…

Các đại biểu thực hiện nghi thức khởi công dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1
Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Văn Ánh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh: Thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Quảng Ninh xác định 23 dự án nguồn điện từ các loại hình năng lượng tái tạo và thân thiện môi trường, với tổng công suất 3.502MW. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu năng lượng theo hướng xanh, bền vững.
Việc triển khai dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1 là dấu mốc quan trọng trong lộ trình chuyển dịch từ "nâu" sang "xanh" của tỉnh, góp phần hoàn thành các chủ trương lớn của Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tạo hiệu quả kinh tế, việc làm cho lao động địa phương và tăng thu ngân sách cho tỉnh.
Để dự án hoàn thành đúng tiến độ, ông Lê Văn Ánh yêu cầu nhà đầu tư tập trung tối đa nguồn lực, áp dụng công nghệ hiện đại, tổ chức thi công khoa học, bảo đảm tiến độ, chất lượng; đặc biệt chú trọng bảo vệ môi trường, an toàn lao động, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Các sở, ngành, địa phương tiếp tục đồng hành, hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc với tinh thần “hiệu quả của doanh nghiệp là thành công của tỉnh”; kiên quyết không để xảy ra tình trạng gây phiền hà, nhũng nhiễu trong quá trình triển khai dự án.