Tại hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh - xu thế phát triển bền vững” do báo Xây dựng vừa tổ chức tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết, cả nước đang có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung với tổng công suất thiết kế 12,4 tỷ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm 40% tổng công suất thiết kế vật liệu xây dựng. Năm 2025, sản lượng sản xuất đạt trên 7,2 tỷ viên, tiêu thụ 6,7 tỷ viên. Nhóm sản phẩm này giúp giảm sử dụng đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, hạn chế phát thải và góp phần xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao từ các ngành công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất.

Hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh - xu thế phát triển bền vững”
Bên cạnh đó, một số dòng vật liệu tiết kiệm năng lượng cũng được nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng, tiêu biểu là các sản phẩm kính giảm truyền nhiệt, hạn chế bức xạ mặt trời. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp cũng đã tận dụng tro, xỉ, thạch cao, xỉ lò cao, phế thải công nghiệp làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, bê tông và các vật liệu khác.
Đáng chú ý, nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đang từng bước tiếp cận các hệ thống chứng nhận xanh, chứng nhận môi trường và các yêu cầu kỹ thuật cao của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc như: áp lực về chi phí đầu tư ban đầu cho đổi mới công nghệ còn cao; sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, khả năng hấp thụ thị trường đối với vật liệu xanh chưa mạnh; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với một số loại vật liệu mới chưa hoàn thiện.
Đặc biệt, cơ chế khuyến khích thúc đẩy phát triển vật liệu xanh hiện chưa thật sự đủ mạnh. Việc tiếp cận tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế và các công cụ tài chính hỗ trợ chuyển đổi xanh vẫn còn là vấn đề nhiều doanh nghiệp quan tâm.
Ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam cho rằng, để thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh, điều quan trọng trước hết là phải xây dựng được một hệ thống khái niệm và tiêu chí thống nhất. Hiện nay, khái niệm “vật liệu xanh” vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong khi việc dán nhãn sản phẩm lại do nhiều tổ chức thực hiện với tiêu chí chưa đồng bộ, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.
Theo ông Lê Quang Hùng, cần sớm xây dựng hệ thống mã định danh cho vật liệu xanh, đi kèm với bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng. Việc chuẩn hóa này không chỉ giúp tránh chồng chéo trong quản lý mà còn tạo nền tảng minh bạch cho thị trường, giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận diện và lựa chọn sản phẩm thân thiện môi trường.
Bên cạnh yếu tố tiêu chuẩn, chính sách hỗ trợ cũng đóng vai trò then chốt. Nhà nước cần có cơ chế ưu tiên sử dụng vật liệu xanh trong các công trình đầu tư công, qua đó tạo “đầu ra” ổn định cho thị trường; cần đẩy mạnh truyền thông để nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về lợi ích lâu dài của vật liệu xanh, từ đó từng bước thay đổi hành vi tiêu dùng.

Phát triển vật liệu xây dựng gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải
Bà Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc Trung tâm Môi trường và cơ khí xây dựng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) nhấn mạnh, vật liệu xanh là yếu tố cốt lõi của xây dựng bền vững. Xu hướng toàn cầu đang chuyển mạnh sang sử dụng vật liệu có nguồn gốc tái tạo, vật liệu sinh học, vật liệu thông minh và vật liệu thân thiện với sức khỏe con người.
Các giải pháp như sử dụng vật liệu cách nhiệt, cửa kính kiểm soát năng lượng hay mái có chỉ số phản xạ bức xạ cao có thể giúp công trình tiết kiệm 20 - 30% năng lượng. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh chi phí năng lượng ngày càng gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng khắt khe.
Đặc biệt, xu hướng tái chế và tái sử dụng vật liệu đang mở ra dư địa lớn cho ngành. Theo PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, lượng chất thải rắn xây dựng tại Việt Nam đã tăng nhanh, từ 1,9 triệu tấn năm 2010 lên khoảng 9,6 triệu tấn vào năm 2025, chiếm 10 - 12% tổng chất thải đô thị, thậm chí lên tới 20 - 25% tại các đô thị lớn. Phần lớn chất thải này là bê tông, gạch, vữa – những vật liệu có khả năng tái chế cao. Tuy nhiên, việc tận dụng nguồn tài nguyên này vẫn gặp nhiều khó khăn như chi phí xử lý cao, thiếu phân loại tại nguồn, công nghệ còn hạn chế và tâm lý e ngại của thị trường.
Theo các chuyên gia, để thúc đẩy tái chế, cần đồng bộ nhiều giải pháp: hoàn thiện tiêu chuẩn, áp dụng công cụ kinh tế như thuế tài nguyên và thuế carbon, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ và xây dựng chuỗi cung ứng vật liệu tái chế.
Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh cho biết, Bộ Xây dựng đang tiếp tục hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chuyển đổi xanh, trong đó định hướng xây dựng khung quản lý, phát triển vật liệu xây dựng gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Đây sẽ là nền tảng quan trọng để tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định hơn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển vật liệu mới, vật liệu tái chế, vật liệu xanh và mở rộng thị trường cho các sản phẩm vật liệu xây dựng có chất lượng, có trách nhiệm môi trường cao hơn.
Bên cạnh đó, sự đồng hành và phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, các hiệp hội nghề nghiệp và cả người tiêu dùng sẽ góp phần thúc đẩy sử dụng vật liệu xanh trong thực tiễn. Dự kiến, thông tư dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng sẽ được ban hành trong quý IV/2016.